Chế phẩm sinh học và giải pháp nuôi tôm bền vững

1. Hiện trạng nuôi thủy sản ở ĐBSCL

Nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm biển là một trong những hoạt động quan trọng, có tầm chiến lược đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Với sản lượng trên 3 triệu tấn/năm, Việt Nam đã trở thành một trong 3 nước đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi thủy sản. Cá tra và tôm biển là 2 đối tượng nuôi hàng đầu góp phần đáng kể vào sản lượng thủy sản của Việt Nam và chủ yếu từ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). ĐBSCL đóng góp tới 2/3 tổng sản lượng thủy sản của cả nước và điều này cho thấy tầm quan trọng của ĐBSCL trong việc phát triển kinh tế nói chung và thủy sản nói riêng của đất nước.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê (2016), diện tích nuôi thủy sản tăng nhanh từ năm 2000 đến 2008 và có xu hướng chựng lại trong những năm gần đây. Diện tích nuôi tôm cũng có xu hướng tương tự, thậm chí giảm nhẹ trong những năm 2014-2015 (Hình 1).

Hình 1 – Biểu đồ thể hiện diện tích nuôi tôm từ năm 2000 – năm 2015

Mặc dù diện tích nuôi không gia tăng nhưng sản lượng không ngừng tăng nhanh (Hình 2). Số lần tăng lên của diện tích nuôi năm 2015 so với năm 2000 là 1,6-1,7 lần; trong khi đó sản lượng thủy sản năm 2015 tăng gấp 6 lần so với năm 2000 và sản lượng tôm tăng gấp 7 lần. Như vậy diện tích nuôi gia tăng không đáng kể nhưng sản lượng tăng nhanh rất đáng kể. Số liệu này cho thấy mức độ thâm canh hóa ngày càng cao.

Hình 2 – Biểu đồ thể hiện sản lượng tôm nuôi từ năm 2000 – năm 2015

Việc thâm canh hóa giúp tăng nhanh sản lượng thủy sản nuôi nói chúng và tôm biển nói triêng, tuy nhiên cũng dẫn đến những hệ lụy về môi trường và dịch bệnh. Lượng chất thải, chất hữu cơ trong quá trình nuôi tạo ra ngày càng nhiều do mật độ thả nuôi cao và lượng thức ăn cho ăn tăng lên theo mật độ nuôi. Môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm và dẫn đến phát sinh nhiều loài bệnh khác nhau. Thực tế cho thấy, trong nuôi tôm biển, với mức độ thâm canh ngày càng cao, dịch bệnh ngày càng trở nên phức tạp. Các loại bệnh mới liên tục phát sinh và khó kiểm soát như bệnh vi-rút đốm trắng, bệnh đầu vàng, bệnh hoại tử gan tụy cấp, bệnh phân trắng, …. Khi tôm bệnh, người nuôi sẽ áp dụng nhiều cách chữa trị khác nhau để trị bệnh bao gồm sử dụng rất nhiều loại kháng sinh, hóa chất kể các loại đã cấm lưu hành do ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Việc lạm dụng quá nhiều thuốc kháng sinh dẫn tới sự tồn lưu của dư lượng kháng sinh trong nước và trong thịt tôm gây ra các rủi ro và nguy cơ sau đây:

  • Tôm xuất khẩu không đảm bảo chất lượng, không đảm bảo vấn đê vệ sinh, an toàn thực phẩm và không được chấp nhận bởi các quốc gia nhập khẩu. Thực tế trong những năm qua đã có hàng trăm tấn tôm xuất khẩu bị trả về khi bị phát hiện có dư lượng thuốc kháng sinh và gây thất thoát đáng kể cho cả người nuôi và nhà xuất khẩu.
  • Tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh trên động vật thủy sản, động vật trên cạn và đặc biệt trên con người, gây nguy hại trực tiếp đến sức khỏe của con người. Vấn đề này hiện nay đã được báo động ở nhiều nơi trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
  • Gây suy giảm đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái thủy vực nơi ảnh hưởng bởi nước thải có dư lượng hóa chất, thuốc kháng sinh, ảnh hưởng khoog nhỏ đến nguồn lợi thủy sinh vật và những nguồn lợi khác.

2. Giải pháp an toàn sinh học trong NTTS bền vững

An toàn sinh học trong nuôi tôm công nghiệp là các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân tự nhiên hoặc do con người trong quá trình nuôi, có khả năng gây nguy hại đến con người, vật nuôi và hệ sinh thái.

Để hạn chế những nguy cơ về dịch bệnh và nhất là nguy cơ tạo các dòng vi khuẩn kháng thuốc, đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, hướng tới nuôi thủy sản bền vững, các giải pháp an toàn sinh học đã được áp dụng rộng rãi. Trong các giải pháp hạn chế tác nhân lây nhiễm bệnh bằng các biện pháp cách ly lý, hóa học, cơ học, thì biện pháp sinh học đóng vai trò rất quan trọng. Biện pháp sinh học được thực hiện chủ yêu qua việc sử dụng chế phẩm sinh học trong suốt quá trình nuôi.

Chế phẩm sinh học bao gồm:

  • Probiotics là một loại thức ăn có nguồn gốc từ những vi sinh vật sống và có ảnh hưởng có lợi lên vật chủ qua việc làm cải thiện sự cân bằng hệ vi sinh trong đường ruột của vật chủ.
  • Prebiotics là những hợp chất bổ sung vào thức ăn, có tác dụng kích thích sinh trưởng và hoạt tính của hệ vi khuẩn có lợi hiện diện trong hệ tiêu hóa của vật chủ.

Một cách dễ hiểu, chế phẩm sinh học là các chiết suất sinh học và chế phẩm vi sinh (men vi sinh):

  • Chế phẩm vi sinh (men vi sinh) là chế phẩm chứa vi sinh vật sống (vi khuẩn có lợi/vi khuẩn hữu ích).
  • Chế phẩm chiết suất sinh học là chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên là chất chiết từ sinh vật (ví dụ như Yucca, Beta-glucan, bokashi trầu, tỏi, neem, cỏ mực….).

Việc sử dụng các chế phẩm sinh học trong nuôi tôm sẽ giúp:

  • Tránh được việc sử dụng hóa chất và thuốc kháng sinh
  • Đảm bảo môi trường luôn ổn định, hạn chế khí độc, độc tố trong ao ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm
  • Tăng sức đề kháng cho tôm
  • Hạn chế mầm bệnh và dịch bệnh xảy ra

Sử dụng chế phẩm sinh học giúp tôm tăng trưởng nhanh chóng, hạn chế mầm bệnh và dịch bệnh xảy ra

Sử dụng chế phẩm sinh học giúp tôm tăng trưởng nhanh chóng, hạn chế mầm bệnh và dịch bệnh xảy ra

Các loại men vi sinh (vi khuẩn có lợi) thường được dùng trong ao nuôi tôm bao gồm:

  • Bacillus
  • Lactobacillus
  • Vi khuẩn chuyển hóa đạm (NitrosomonasNitrobacter)

Thông qua các cơ chế cạnh tranh dinh dưỡng, cạnh tranh không gian sống (chỗ ở), tiết ra các enzyme, chất kháng khuẩn, phân hủy vật chất hữu cơ…. các vi khuẩn có lợi này có vai trò rất quan trọng trong ao nuôi tôm trong việc:

  • Lấn át sự phát triển của vi khuẩn có hại/gây bệnh (nhóm Vibrio)
  • Hạn chế  vi  khuẩn  có  hại  trong  đường  ruột, hỗ trợ tiêu hóa của vật chủ  và  giúp  chuyển  hoá  hiệu  quả thức ăn, tăng cường sức đề kháng cho vật chủ
  • Tiết ra một số chất kháng sinh, enzyme hay hoá chất để kìm hãm hay tiêu diệt mầm bệnh và tảo độc, đối kháng vi sinh vật gây bệnh.
  • Phân hủy chất hữu cơ dư thừa, cải thiện chất lượng nước.

Ao nuôi tôm được quản lý tốt với việc sử dụng thường xuyên chế phẩm sinh học để khống chế vi khuẩn có hại và hàm lượng độc tố trong ao giúp cho môi trường ao nuôi tôm ở trạng thái ổn định, chất lượng nước tốt, tôm khỏe mạnh, sinh trưởng tốt và tất nhiên sẽ hạn chế được tối đa sự bùng phát của dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.

TÁC GIẢ: PGS.TS. VŨ NGỌC ÚT

KHOA THỦY SẢN, ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Chế phẩm sinh học và giải pháp nuôi tôm bền vững
5 (100%) 1 vote
icon up top